Lu cat !

Gương mặt mới của nghèo đói

Trong các chương trình truyền hình chào mừng các ngày lễ lớn hay muốn minh họa sự phát triển của TPHCM, rất thường hay thấy cảnh kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè.

Có lẽ đó là một sự so sánh đắt nhất những đổi thay ngoạn mục của thành phố này, giữa hình ảnh những dãy bờ kè ngăn nắp của dòng kênh ngày hôm nay, cùng những dãy nhà phố khang trang sầm uất và những quán nhậu đông đúc khi chiều đến, như minh chứng sự phồn thịnh của hiện tại, đối lập với hình ảnh những khu ổ chuột nhếch nhác, bẩn thỉu và dòng kênh đen ngòm khi xưa.

Năm 1995-1996, khi làm việc trong một chương trình hỗ trợ trẻ đường phố thuộc một tổ chức phi chính phủ của Pháp, tôi đến những khu ổ chuột ven kênh Nhiêu Lộc đó hầu như mỗi tuần, nhưng chưa bao giờ dám đi một mình mà không có người dẫn đường. Không phải vì sợ, mà vì rất dễ lạc trong những con hẻm nhỏ ngoằn ngoèo như ma trận luồn lách qua những cái gọi là “nhà”, thường là những căn lều rách rưới tạm bợ xiêu vẹo dựa dẫm vào nhau, hay gác lên dòng kênh đen hôi một mùi đặc quánh, ám ảnh. Nhưng những cư dân ở đó không bao giờ biết sự tồn tại mùi hôi ấy, họ đã quá quen thuộc với nó.

Dự án của tôi kết thúc cũng là lúc khu vực kênh Nhiêu Lộc giải tỏa, thỉnh thoảng tôi cũng muốn tìm gặp lại những đứa trẻ lang thang đó và người thân của chúng. Thậm chí tôi đã từng tìm đến thăm hỏi những khu chung cư được xem là dành cho người tái định cư khu vực ổ chuột hồi trước, nhưng tuyệt không có dấu tích của họ. Những thầy cô giáo của những lớp tình thương năm xưa nói rằng, lũ trẻ và gia đình của chúng đã dạt ra ngoại thành, những khu vực như Hóc Môn, Nhà Bè, Thủ Đức… Nghe nói, nhiều người trong số họ dù ở xa, vẫn tiếp tục hàng ngày chạy xe hay đi xe buýt vào trung tâm thành phố, vào các khu chợ và các ngõ hẻm quận 1, quận 3… để bán vé số, đánh giày, bán hàng rong, bốc vác, ăn xin…, tiếp tục cuộc mưu sinh của họ.

Vì thế, như một thói quen, tôi vẫn luôn chú ý nhìn gương mặt của những người nghèo mà tôi thấy trên đường. Dù vẫn chưa gặp lại những người quen cũ, nhưng tôi lại thấy vô số những gương mặt mới, đa dạng hơn của nghèo đói.

Nếu người nghèo năm xưa là con cái của những người nghèo “gia truyền” đã định cư ở khu ổ chuột từ đời này qua đời khác, thì nay “người nghèo mới” nhiều hơn, từ các tỉnh và các vùng thôn quê đổ về. Mỗi buổi sáng sớm, khi những con đường còn chưa kịp “kẹt” xe, trên những cửa ngõ vào thành phố có nhiều người lũ lượt đạp xe gắn những cái cần xé bằng dây thép chất đầy một loại trái cây nào đó mà chắc họ phải dậy từ sớm hơn nữa để mua ở chợ đầu mối, để đến khi người thành phố đi làm đã thấy họ đứng bán ở những góc đường từ bao giờ. Có một buổi chiều mưa, tôi thấy một người đàn ông như thế đứng tần ngần bên chiếc xe còn tới hơn phân nửa cần xé những trái táo nhỏ, nhìn kỹ đã hư ủng gần hết, nhưng dường như ông vẫn hy vọng sẽ còn ai đó muốn mua…

Nếu người nghèo những năm trước còn thong thả, nay họ phải cạnh tranh quyết liệt hơn nhiều. Ông Sáu đã hơn năm chục tuổi, chạy xe ôm ở Bến xe Miền Đông “từ hồi đó tới giờ”, nói “hồi đó” người đi nhiều hơn xe, nay xe nhiều hơn người, khó khăn vô cùng. Gia nhập lực lượng này có thêm nhiều người ở quê mới lên, những thợ hồ, công nhân thất nghiệp, cả sinh viên làm thêm… Ông Sáu kể, như ông chạy xe lâu có mối mang mà còn khó, mấy đứa mới vô nghề kể như đói liên miên. Nhiều xe thì phải cạnh tranh bằng cách hạ giá, trong khi xăng thì lên giá mãi, nhiều khi cầm mấy tờ bạc mà ứa nước mắt. Chưa kể, vì giành khách mà đánh chửi nhau xảy ra như cơm bữa, tình người mong manh hơn bao giờ.

Cuộc mưu sinh khắc nghiệt và sự cách biệt giàu-nghèo có thể khiến con người trở nên chai sạn đi. Tôi đã chứng kiến những đám giỗ ở làng quê mà những người trong họ tộc bao nhiêu năm tình thân gắn bó, giờ từ mặt nhau chỉ vì cái nghèo. Một gia đình làm mấy sào rau chỉ bán được hơn 100.000 đồng, chưa đủ tiền thức ăn, làm sao có tiền đóng góp cho họ tộc, cho việc mồ mả cha ông? Xích mích đó còn nhẹ, chuyện trộm nhau con gà, trái mít… có khi cũng dẫn tới đánh giết nhau.

Ở nơi cái nghèo thấm thía ăn mòn trong máu thịt, con người có thể còn hơn cả hổ dữ. Tôi từng biết có người mẹ bán trinh những đứa con gái của mình, lần lượt. Đến đứa con gái mười lăm tuổi đã mất trinh, không bán được, bà ta bực mình nói, “rút kinh nghiệm con em nó, mười hai mười ba tuổi là phải bán liền kẻo không kịp”. Liệu ai có thể cứu được họ khi chính họ không còn biết đó là tội ác. Người mẹ ấy bán trinh con mình mà thản nhiên như thể đi hốt hụi.

Khi xưa đến khu ổ chuột kênh Nhiêu Lộc và hỏi sao mùi hôi thế mà mọi người cũng chịu được, họ đều nhìn tôi ngạc nhiên, cái gì hôi, tụi tui có thấy mùi gì đâu? Họ sống trong mùi hôi ấy đã quá lâu, đến nỗi không còn cảm nhận được nó. Rồi đến khi chính họ cũng không cảm nhận được là họ còn có thể sống như những con người, có quyền có những điều cơ bản nhất, như quyền được sống sót mà không phải đánh đổi tất cả, kể cả tình yêu thương, kể cả lòng tự trọng, phẩm giá và cả mạng sống của mình.

Họ không những không cảm thấy được mùi hôi thối của con kênh, họ còn đang trở nên vô hình, vô tiếng. Người ta đã quên mất họ, không nhìn, không nghe thấy họ, trong những chương trình phát triển, tái cơ cấu, đầu tư… hàng trăm ngàn tỉ. Những người nghèo không biến mất, họ vẫn còn đi về khắp các ngả đường và ngày càng nhiều lên, nhưng trên những bản đề án, những khung hình truyền hình, chỉ còn lại những bờ kênh gọn gàng, những tòa nhà lộng lẫy, những con đường mênh mông rực rỡ ánh đèn và những tượng đài hoành tráng.

Một bài viết quá hay ! Nguồn từ đây

17 May 2012


3 May 2012


[Flash 9 is required to listen to audio.]

Plays: 53

 

Tình về nơi đâu Thanh Bui ft. TaTa Young !

27 April 2012


This is an intereseting view between two diffrent platforms.

This is an intereseting view between two diffrent platforms.

20 April 2012


16 April 2012 reblog: picapixels


picapixels:

3b85a4e3.jpg帆足剛彦

16 April 2012 reblog: picapixels


Cội nguồn rượu Bàu Đá

Ngày xửa ngày xưa, men theo hai bờ sông Kôn từ thượng nguồn xuôi về hạ bạn, có nhiều làng rượu ngon nổi tiếng, nhất là các làng: Vĩnh Phúc, Vĩnh Cửu, Tiên Thuận, Đồng Hào, Phú Lạc, Phú Mỹ, Vĩnh Lộc, An Vinh… Thuộc Tây Sơn hạ đạo, mà dân gian thường gọi là rượu Tây Sơn. Còn rượu Bàu Đá cái “Thương hiệu” của rượu Bình Định nổi danh trong Nam, ngoài Bắc ngày nay cũng chính là dòng rượu Tây Sơn, cùng thừa hưởng chung dòng nước ngọt ngào của ngọn nguồn sông Kôn được ủ lạnh, lọc trong từ những hộc đá ngầm ở Vực Bà, Nước Miên, Nước Trinh, sông Kxôm, Hầm hô… ban tặng cho một dòng sông, một vùng đất; nhưng cái tên rượu Bàu Đá như một câu chuyện dân gian lại bắt đầu từ xóm “Tân Long”.

Xóm có tên gọi Tân Long, (thôn Cù Lâm, xã Nhơn Lộc, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định), xưa nay chuyên nghề làm ruộng, tại xóm Tân Long có một cái bàu rộng khoảng 3 sào của ông xã Lựu, trong bàu có nhiều hòn đá to do thiên nhiên sinh ra, hằng năm ông xã Lựu tổ chức một ngày giậy bàu vào mùa hè, xóm gần- làng xa mọi người về đây bắt cá đông vui, ai bắt bao nhiêu cá cũng được, ông xã Lựu chỉ lấy một con gọi là “xâu”, vì vậy đã trở thành ngày hội bắt cá định kỳ ở cái bàu có đá xóm Tân Long và được dân gian gọi là xóm Bàu Đá. Từ khi xóm Bàu Đá nấu rượu và phát triển kinh doanh nghề rượu người ta lấy tên xóm Bàu Đá đặt cho tên rượu gọi là “ rượu Bàu Đá”.

Xóm rượu Bàu Đá ra đời muộn mằn so với các làng, xóm rượu trong vùng, đó là những năm 1947 - 1948, một số hộ gia đình: Ông Đinh Lý, Tám Cộng, Mười Mẫu, Ba Trương… mời ông Hương Lễ Nghè một nghệ nhân nổi tiếng nghề nấu rượu ở làng An Vinh, xã Bình An, huyện Bình Khê (nay là huyện Tây Sơn) tỉnh Bình Định sang dạy nghề nấu rượu, và cũng từ đây họ truyền nghề cho nhau, đến nay 40 hộ gia đình xóm Bàu Đá có đến 38 hộ chuyên nghề nấu rượu .

Hiện nay một số làng rượu truyền thống trong vùng Tây Sơn hạ đạo đã cải tiến nghề nấu rượu, miễn sao công ít, lợi nhiều. Đặc biệt ở cái xóm rượu Bàu Đá này vẫn giữ nguyên công thức cổ truyền mà ông Hương Lễ Nghè đã dạy, từ việc chọn gạo; kỹ thuật nấu cơm; họ không dùng các loại men bột công nghiệp ở TP Hồ Chí Minh như nhiều nơi dùng mà họ chọn loại men bánh dân gian, thường là men Trường Định (Bình Hòa), Bả Canh (Đập Đá). Tỷ lệ men và cơm, kỹ thuật ủ cơm rượu, đổ nước vào cơm rượu đã ủ phải lấy từ giếng bộng đất nung, hoặc giếng đá ong, không lấy nước giếng đất, giếng bêtông xi-măng. Họ không nấu nồi nhôm mà là nồi đồng, nắp đậy nồi bằng đất nung; cất rượu bằng ống tre… Từ đó đã cho ra loại rượu ngon có mùi thơm đặc biệt và “Thương hiệu” rượu Bàu Đá đã thay cho rượu Tây Sơn xưa. Nhưng cả vùng Tây Sơn hạ đạo có chung nước sông Kôn, những xómlàng rượu nào giữ gìn nghề nấu rượu theo công thức cổ truyền thì cũng có thể gọi là rượu Bàu Đá.

Thưởng lãm rượu Bàu Đá cũng cầu kỳ lắm lắm; Rượu trong bầu, chai, nậm phải rót ra bình gọi là ve vòi, cái ve vòi đựng rượu có câu đố dân gian rằng:

Thượng tiểu, hạ đa (Trên nhỏ,dưới to) Tích thủy, phi thủy (Đựng nước nhưng không phải nước) Thọ thai, bất thọ thai (Chửa nhưng không phải chửa)

Rót rượu ra chén cũng có kiểu, có cách: Ve vòi giơ cao, rót dòng rượu nhỏ ra chén hạt mít sao cho có tiếng kêu róc rách, vun bọt nhưng rượu không được tràn ra miệng chén. Ngậm một ngụm rượu trong giây lát, uống xong ta thấy đọng lại vị ngọt thanh, mùi thơm khó tả…

Ai về Bình Định mà chưa được thưởng thức món chim mía Tây Sơn; chim se sẻ, nem chợ huyện Tuy Phước nhâm nhi với chén rượu Bàu Đá coi như chưa về Bình Định vậy. Người Bình Định đi xa, khách thập phương mọi miền khi tạm biệt Bình Định cũng có vài lít rượu Bàu Đá để làm quà.

Rượu Bàu Đá thường được dùng trong những ngày giỗ chạp, lễ nghi, hội hè, đình đám, nhất là những ngày Tết cổ truyền. Con cháu nội ngoại về mừng tuổi ông, bà có chén rượu Bàu Đá đặt lên bàn thờ thắp nén hương thành kính ta thấy ấm cúng thiêng liêng..

6 April 2012


4 April 2012


2 April 2012


18 March 2012


Giới trẻ và định hướng văn hóa…

Bạn Trinh Nguyễn viết bài dưới đây khá hay, nhà báo giỏi là người cần biết phân tích sâu hơn cho người đọc thấy được vấn đề chứ không chỉ đơn thuần là người đưa tin về sự kiện đã xảy ra. Vấn đề này cũng là một bài toán khó cho các bậc làm cha mẹ khi định hướng cách cảm thụ văn hóa cho con cái khi mà thời gian dành cho chúng là không nhiều dưới áp lực của đồng tiền.

Người khóc òa. Kẻ tan chảy. Ai đó mím môi cố gắng trèo qua hàng rào kiểm soát của Đêm nhạc hội Việt - Hàn vừa qua tại Mỹ Đình, Hà Nội. Trong khi đó, tại khán phòng, đèn chiếu rất sáng trên nhiều lô ghế bỏ trống đỏ rực cứa thêm vào nỗi đau của họ. Nỗi đau chồng thêm khi họ bị cộng đồng “ném đá”, rằng thật tào lao, ngu ngốc khi “phát điên” vì một nhóm nhạc nước ngoài đến thế.

Yêu thương là một điều khó cưỡng! Nhất là khi những thần tượng âm nhạc kia mặc đẹp đến thế, âm nhạc cũng hay và dễ chịu, dễ “tiếp thu” đến thế. Chưa kể, yêu thích đa dạng cũng là biểu hiện bình thường của một xã hội bình thường. Phê phán vì ai không quan tâm tới điều giống mình - dù điều đó rất có giá trị, cũng chưa hẳn là một biểu hiện có văn hóa. Nó giống ép buộc hơn.

Tất nhiên, người ta (trong đó có người làm văn hóa) có thể hướng người khác tới những điều mình muốn họ quan tâm mà không hề phải ép. Và cách làm không chỉ quyết định hiệu quả, mà còn thể hiện tầm văn hóa của họ.

Không chỉ riêng trong chương trình vừa qua, người Hàn Quốc luôn rất biết cách tạo “sóng văn hóa”, ngoại giao văn hóa. Giờ đây, sau hàng chục năm kể từ cơn sốt phim Hàn đầu tiên trên VTV, phong cách thời trang Hàn Quốc tại Việt Nam là có thực, trào lưu hâm mộ K-pop cũng thật hiển nhiên. Và dĩ nhiên kéo theo đó, là sức tiêu thụ sản phẩm made in Korea tăng lên rõ rệt, không chỉ ở Việt Nam, Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore mà lan sang nhiều nước trên thế giới. Người Hàn rất giỏi trong việc định hướng thẩm mỹ văn hóa - đặc biệt cho giới trẻ để rồi sau đó tạo nên xu hướng tiêu dùng.

Hàn Quốc trong mắt người Việt rất sinh động, biến đổi theo chính những trào lưu, những thần tượng vốn cũng thay đổi từng ngày. Văn hóa Hàn không bị “đóng gói” bằng kim chi và bộ hanbok. Trong khi đó, chúng ta vẫn cặm cụi, đơn giản mang áo dài hay phở, vài điệu hát câu hò… đi làm ngoại giao văn hóa.

Còn trong nước, những thiết chế văn hóa như nhà văn hóa, nhà hát, thư viện, bảo tàng lại vận hành lỏng lẻo. Thế thì, trách gì những người trẻ còn đang hình thành nhân cách và mới chập chững tích lũy văn hóa?

Trích từ đây

18 March 2012


Vmware View Client with PCoIP on Gentoo

Well,I thought that you’ve heard VMware View Open Client at Google Code before reaching here but this opensource does not support the closed protocol PCoIP from Teradici.

Fortunately, HP had released the package for their ThinClient Pro which included PCoIP protocol, you can get at this address: ftp://ftp.hp.com/pub/softpaq/sp52501-53000/sp52674.exe

Extract the packge using one of the archive program and get two debs file:

hptc-view-mgr_4.6.0-T32014_i386.deb vmware-view-client_4.6.0-366101-1_i386.deb

To get this work on Gentoo, emerge the package deb2targz then extract two package to two folders, copy all files in usr, lib to you system folder.

Launch vmware-view and login to your client, if you can see the protocol PCoIP on the protocol list then it works but for Gentoo, be sure to check the dynamic library of the libpcoip_client at /usr/lib/libpcoip_client.

Double check and connect again, then you can work on your beloved Gentoo box now. One more problem is the USB redirect, because Gentoo does not use hald anymore and this’s still a problem because the vmware-view-usb still uses the old hald and dbus to redirect USB connection.

16 March 2012


5 March 2012


The shell innovation !

The shell innovation !

22 February 2012


14/2 function !

14/2 function !

14 February 2012